Ngôn ngữ :Tiếng việt| English
TỪ KHÓA TÌM KIẾM
Chức năng
Năng lực
Khoa học công nghệ
Quản lý chất lượng
Dự án
Hợp tác quốc tế
Số người Online: 2
Số lượt Online: 194601
Đất nước ta có đường bờ biển dài 3.300 km, giao thông vận tải, buôn bán bằng đường biển từ lâu đã là một thế mạnh. Tuy nhiên, để có thể khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển, một trong những nhiệm vụ đặt ra là chúng ta cần có chiến lược xây dựng và phát triển hệ thống cảng biển theo hướng hiện đại.
Tình hình hiện tại
Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên thị trường quốc tế trong thời điểm hiện nay không chỉ phụ thuộc vào chất lượng và giá thành của sản phẩm mà còn phụ thuộc nhiều vào chi phí vận tải mà doanh nghiệp đó phải chi trả trong quá trình bao tiêu sản phẩm. Các mặt hàng được sản xuất trong nước nếu nhập nguyên liệu thô và xuất sản phẩm bằng đường thuỷ với các tàu biển có trọng tải lớn sẽ là kênh tiêu thụ có hiệu quả, giảm đáng kể chi phí vận tải và tăng hiệu quả đầu tư. Chính vì vậy, yếu tố cảng biển là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư trong việc quyết định lựa chọn vị trí của dự án.
Theo quan điểm truyền thống, cảng biển là đầu mối giao thông, là nơi thực hiện các thao tác xếp dỡ hàng hoá từ phương thức vận tải biển sang các phương thức vận tải khác và ngược lại. Vai trò cơ bản của cảng là xếp dỡ hàng hoá, hỗ trợ cho công tác xuất nhập khẩu với tư cách là một bộ phận cơ sở hạ tầng quan trọng của quốc gia. Theo quan điểm hiện đại, cảng biển muốn hoạt động tốt, phát huy hết khả năng của mình cần phải có mặt bằng, cơ sở vật chất lớn để phục vụ cho tất cả các hoạt động của các doanh nghiệp. Như vậy, ngoài vai trò xếp dỡ hàng hoá, trung chuyển đơn giản và logistic tạo giá trị gia tăng, cảng còn có vai trò của chuỗi kinh doanh nên hoạt động của nó gắn liền với hoạt động của các khu kinh tế mở, khu thương mại tự do, khu công nghiệp, khu chế xuất...
Cho đến nay, hầu hết các cảng biển Việt Nam chỉ mới đạt tiêu chí cảng truyền thống với vai trò cơ bản là xếp dỡ hàng hoá. Trong số đó, có một số ít cảng mới được xây dựng có khả năng phát triển để đạt được các tiêu chí của một cảng hiện đại. Mặc dù vậy, với Quy hoạch tổng thể hệ thống cảng biển đến năm 2010 đã được phê duyệt, trong giai đoạn đầu (2001-2005), chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng:
+ Cảng biển đã lưu chuyển toàn bộ khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, phục vụ các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế và thúc đẩy quátrình hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Nhờ dự báo nhu cầu hàng hoá tương đối phù hợp với thực tế nên chúng ta đã đưa ra được thứ tự ưu tiên hợp lý đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp và xây mới cảng biển. Những năm qua, ở nước ta không xảy ra tình trạng hàng hoá bị ứ đọng hoặc tàu phải xếp hàng chờ cập bến ở các cảng. Việc quy hoạch các cảng hợp lý, khoa học; hệ thống bốc dỡ nhanh chóng, thuận tiện, có sức hấp dẫn các nhà xuất, nhập khẩu trong và ngoài nước.
+ Trong từng khu vực, ngoài các cảng tổng hợp chủ lực mang tính chiến lược quốc gia, chúng ta còn có các cảng vệ tinh để hỗ trợ cho hoạt động vận tải biển nói chung và giải quyết nhu cầu hàng hoá phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương.
+ Việc áp dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ vào quản lý và khai thác các cảng biển đã phát huy tác dụng, đạt hiệu quả cao. Năng lực các nhà xây dựng, nhà thầu trong nước không ngừng được đổi mới, nâng cấp; đội ngũ cán bộ sử dụng và vận hành cảng biển ngày một hoàn thiện.
Bên cạnh những mặt được, trong hệ thống cảng biển Việt Nam vẫn còn những tồn tại cần khắc phục như:
- Mục tiêu để tính toán, dự báo nhu cầu hàng hoá trong nước và quốc tế chưa chính xác nên quy hoạch vẫn mang tính chất phát triển tiếp theo của những vị trí cảng hiện có, chưa có những bước quy hoạch đột phá để vươn ra biển.
- Điều kiện kinh tế và trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển tương xứng với đòi hỏi ngày càng cao của thị trường, các cảng được xây dựng ở những vị trí trên sông kín sóng gió nên luồng tàu dài, bị sa bồi, dẫn đến độ sâu chạy tàu bị hạn chế, trang thiết bị xếp dỡ không đồng bộ và năng suất thấp.
- Hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ nối cảng với các vùng kinh tế, khu công nghiệp chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ.
- Thường xuyên phải cập nhật chủ trương, chính sách mới về phát triển kinh tế - xã hội như thành lập khu kinh tế mở, khu thương mại tự do, khu công nghiệp, xây dựng các nhà máy quan trọng có quy mô lớn… Do vậy hệ thống cảng biển Việt Nam vẫn mang tính chắp vá và thiếu tính hệ thống.
- Trong nỗ lực thay đổi cơ cấu kinh tế, các địa phương vùng duyên hải, ven biển thường xây dựng chương trình phát triển công nghiệp dựa trên cơ sở phát triển cảng và coi đó là điều kiện quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mình. Các chương trình đó đã tác động sâu sắc đến nội dung quy hoạch, dẫn đến việc đầu tư nhiều cảng với quy mô nhỏ nằm rải rác khắp các địa phương.
Định hướng phát triển
Hiện tại, hệ thống cảng biển Việt Nam có hơn 24 cảng lớn nhỏ, với tổng chiều dài tuyến mép bến hơn 26 km và hơn 100 bến phao. Lượng hàng hoá được xếp dỡ qua các cảng hàng năm tăng khoảng 10%. Cụ thể: Năm 2004, lượng hàng thông qua là 127,7 triệu tấn, năm 2005 đạt 139 triệu tấn. Trong vòng 10 năm trở lại đây, kinh phí dành cho đầu tưxây dựng mới tăng khoảng 40%, trong khi đó lượng hàng hoá tăng hơn 300%. Như vậy, tốc độ tăng trưởng hàng hoá qua cảng biển nhanh hơn rất nhiều lần so với tốc độ đầu tư xây dựng. Trong thành tựu chung của hệ thống cảng biển có sự đóng góp to lớn của các cảng truyền thống vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Các cảng Hải Phòng, Đà Nẵng và các cảng khu vực thành phố Hồ Chí Minh là các cảng quan trọng, đóng vai trò chủ lực trong hệ thống cảng biển Việt Nam. Tất cả các cảng này dù có lịch sử hoạt động lâu dài hoặc mới hình thành đều có đặc điểm chung là khu hậu phương rất hẹp và chỉ thực hiện vai trò cơ bản là xếp dỡ hàng hoá. Chính vì thế, để xây dựng hệ thống cảng biển nước ta trở thành cảng hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giớ; cần phải có những bước đi đột phá, tạo hướng mới trong việc xây dựng, khai thác tối đa tiềm năng và thế mạnh của các cảng này. Cảng Hải Phòng phát triển về phía biển mà trước mắt là Đình Vũ và tiếp theo là cửa Lạch Huyện. Cảng Tiên Sa - Đà Nẵng phát triển sang Liên Chiểu và các khu vực khác trong vịnh Đà Nẵng. Các cảng trên sông Sài Gòn được di dời về các vị trí khác trên sông Soài Rạp, sông Cái Mép - Thị Vải. Trong tương lai, tại khu vực vịnh Ghềnh Rái và vùng biển Vũng Tàu sẽ phát triển các dự án cảng hiện đại, có vai trò quyết định trong chuỗi kinh doanh của khu thương mại tự do, khu kinh tế mở…
Theo quy hoạch tổng thể của Chính phủ, bắt đầu từ năm 2000, hầu hết các dự án phát triển cảng được nghiên cứu và triển khai xây dựng đáp ứng yêu cầu của tiêu chí cảng hiện đại với khu hậu phương rộng lớn và được gắn liền với các khu công nghiệp, khu chế xuất...như: Cảng Cái Lân, Đình Vũ, Nghi Sơn, Vũng Áng, Chân Mây, Dung Quất, Cái Mép - Thị Vải… Trong số các cảng đặc biệt quan trọng ở 3 vùng kinh tế trọng điểm Bắc, Trung, Nam thì các cảng Cái Lân, Dung Quất, Cái Mép - Thị Vải là những dự án đang được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, bởi đây chính là đầu mối giao thông thuỷ quan trọng, giúp chúng ta thông thương thuận tiện với các nước trong khu vực và thế giới bằng đường biển. Cảng Cái Lân
Cuối năm 2003, Dự án cảng Cái Lân giai đoạn I đã được hoàn thành và chính thức đưa 3 bến cho tàu 40.000 DWT (với tổng chiều dài 680 m, độ sâu khu nước trước bến là -13 m) vào hoạt động. Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam có một cảng hiện đại cho phép 3 tàu cỡ lớn neo cập làm hàng đồng thời. Hệ thống bến, kho bãi và thiết bị đạt tiêu chuẩn quốc tế, góp phần tăng năng suất bốc xếp và giải phóng tàu nhanh, giảm giá thành xếp dỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư hoạt động có hiệu quả.
Quyết định 228/2003/QĐ-TTg ngày 6.12.2003 của Thủ tướng Chính phủ đã cho phép áp dụng thí điểm cơ chế cho thuê kết cấu hạ tầng cầu cảng Cái Lân. Đây là mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của ngành Hàng hải Việt Nam, nhằm phát huy hiệu quả vốn đầu tư và về lâu dài sẽ làm cơ sở cho chính sách huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở cảng biển, để ngành Hàng hải Việt Nam thực sự đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước.
Cảng Dung Quất
Cảng này được quy hoạch với chức năng chính là phục vụ Nhà máy lọc dầu số 1, Khu kinh tế Dung Quất, Khu Liên hiệp đóng và sửa chữa tàu thuỷ... Hiện nay, đã đưa vào khai thác bến số 1 cho tàu 10.000 DWT vào neo cập phục vụ thi công các hạng mục công trình của nhà máy lọc dầu. Các hạng mục khác như 1.550 m đê chắn sóng, 6 bến xuất sản phẩm cho các cỡ tàu từ 5.000 đến 20.000 DWT (trong tương lai có thể nâng cấp để tiếp nhận tàu từ20.000 đến 50.000 DWT) còn đang trong giai đoạn thi công.
Cảng Cái Mép - Thị Vải
Đây là cảng cửa ngõ quốc tế quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam sẽ được xây dựng tại các khu Thị Vải, Cái Mép Thượng, Cái Mép Hạ trên sông Thị Vải thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. CảngCái Mép - Thị Vải được phát triển đến năm 2020 sẽ có 14 bến cảng thông qua khoảng 20 triệu tấn cho tàu bách hoá, container có trọng tải 50.000 DWT và lớn hơn ra vào làm hàng với tuyến mép bến dài hơn 3.500 m. Dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị triển khai công tác xây dựng, dự kiến khởi công trong năm nay và hoàn thành vào năm 2011.
Một vài đề xuất
Để hoàn thành tốt mục tiêu phát triển hệ thống cảng biển nước ta, chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến:
- Đầu tư xây dựng các dự án cảng đạt tiêu chuẩn quốc tế, cho phép các tàu có trọng tải lớn neo cập, đầu tư các thiết bị hiện đại có năng suất cao là một yêu cầu cần thiết nhằm phát triển hệ thống cảng biển theo hướng hiện đại, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vì vậy cần phải có những cơ chế, chính sách phù hợp và có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực hợp lý cho sự phát triển của nó.
- Kinh doanh khai thác cảng biển không những mang lại hiệu quả kinh tế cho đất nước mà còn mang lại lợi ích tài chính cho doanh nghiệp khai thác cảng. Cho đến thời điểm hiện nay, việc đầu tư xây dựng cảng biển phần lớn được thực hiện bằng vốn ngân sách và sau đó giao cho doanh nghiệp khai thác sử dụng cảng. Thực hiện chủ trương cho thuê kết cấu hạ tầng cảng biển sẽ đưa lại triển vọng hình thành các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cảng biển bằng cách huy động mọi nguồn vốn, đặc biệt cần khuyến khích khu vực tư nhân trong và ngoài nước. Các nhà khai thác cảng cần được lựa chọn trên cơ sở đấu thầu, nhà đầu tư xây dựng cảng được thu hồi vốn và lãi do công tác kinh doanh khai thác cảng đem lại.
- Tăng cường huy động các nguồn vốn để đầu tư, xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng cảng biển nhằm đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách, đồng thời góp phần hạn chế và giảm thiểu tiêu cực trong công tác xây dựng cơ bản.
- Đẩy mạnh áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin vào công tác quản lý và khai thác cảng; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ hàng, chủ tàu tiết kiệm thời gian, giải phóng tàu nhanh, giảm chi phí vận tải và tăng hiệu quả vốn đầu tư.
- Khai thác cảng biển cũng như thực hiện những nhiệm vụ quan trọng khác, đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ sư, công nhân kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao. Song song với công tác đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, vấn đề đào tạo nâng cao năng lực quản lý và khai thác cảng cần được đặt lên vị trí hàng đầu. Đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn giỏi và hệ thống cảng biển hiện đại với cơ chế chính sách phù hợp là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của ngành Hàng hải Việt Nam.